Họp mặt Giáo lý Toàn quốc 2014: Kết thúc - TRUYỀN THỐNG DẠY GIÁO LÝ CỦA TIỀN NHÂN (tt)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 2364 | Cật nhập: 8/19/2014 3:58:31 PM | RSS


TRUYỀN THỐNG DẠY GIÁO LÝ CỦA TIỀN NHÂN

(tiếp theo)





PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY - SÁCH GIÁO LÝ ĐẦU TIÊN BẰNG QUỐC NGỮ


Phép giảng tám ngày (Cathechismvs) (PGTN) – tên đầy đủ là Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép Rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời – của linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) là tác phẩm văn xuôi được xuất bản ở Rôma, Ý năm 1651 bằng cả hai thứ tiếng: Latinh và Quốc ngữ. Tác phẩm này được xem là quyển đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ hay là quyển sách giáo lý đầu tiên bằng quốc ngữ. Sách được chia thành tám phần, mỗi ngày học một phần. Ngày bắt đầu học được gọi là “Ngày thứ nhít” (nhất), đến hết “Ngày thứ tám” thì xong. Ba ngày đầu nói về việc tạo dựng – ngày thứ nhất: Đạo Thánh Đức Chúa Trời; ngày thứ hai: Đức Chúa Trời; ngày thứ ba: Đức Thợ Cả. Năm ngày sau dẫn vào đạo thánh Đức Chúa Trời: ngày thứ tư nói về Những Đạo Vạy (đạo không chính, không ngay thẳng); ngày thứ năm và sáu nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai nhập thể và rao giảng; ngày thứ bảy nói về cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Chúa Giêsu; ngày thứ tám nói về Mười Bậc Thang Lê Thiên Đàng (mười giới răn), thiên đàng, hỏa ngục, phán xét chung, Bí tích Rửa Tội.


Bố cục sách PGTN không theo chỉ thị của công đồng Trento (1545-1563) – sách giáo lý phải diễn dịch từ kinh Credo. Cha Đắc Lộ đã phân tích, phê phán tín ngưỡng dân gian và tam giáo (ba tôn giáo ngoại nhập được Việt hóa thành tôn giáo bản địa) để đưa đến cái chân lý là “đạo thánh Đức Chúa Trời”. Việc nhận định và phê phán của cha Đắc Lộ về tín ngưỡng dân gian và tam giáo chưa được chính xác và mang nặng tính định kiến: “Ông Abraham cũng chịu được đạo thánh Đức Chúa trời và bởi ông Sem và bởi ông Noe truyền cho. Ông Abraham lại giữ để cho nhà mình và truyền để cho nước Iudaea, vì ông Abraham là tổ nể nước ấy, và lại để tiếng hebraea truyền cho nước ấy. Mà các nước khác, cùng mất tiếng hebraea khi lộn tiếng nói, và lại mất truyền đạo thánh Đức Chúa trời, cho nên phải sa đạo vậy.” (Tháp Bable, Ngày thứ bốn). Đây cũng là quan niệm sai lầm chung của các thừa sai thời đó về các tôn giáo khác – tiêu cực và phiến diện. Tuy nhiên những gì Phép giảng tám ngày đã làm không phải là vô ích. Thời bấy giờ thuộc đời vua Lê Thần Tông (sau lên thái Thượng Hoàng), nhà vua đề cao Nho giáo, coi nhẹ các tôn giáo khác. Ngôn từ của cha Đắc Lộ trong sách PGTN có gay gắt với các tôn giáo khác nhưng cũng chỉ mang ý hộ giáo, để chứng tỏ rằng Đạo Công giáo không phải là tả đạo mà chính là đạo thánh Đức Chúa Trời.



Nhận định sự đóng góp của PGTN


1. Về mặt ngôn ngữ

1.1. Chữ quốc ngữ

Bản văn Phép giảng tám ngày cho thấy chữ quốc ngữ ở thế kỷ thứ XVII. Chính những cái chưa hoàn chỉnh của từ lại là tài liệu quý giá của ngành ngôn ngữ học. Đó là:

– Dấu thanh đang được hoàn thiện dần trong trong Phép giảng tám ngày. Vd: có lúc dấu ~ thay cho ng cuối từ (ví dụ: cũng viết là cũ, ông viết là ), có chỗ lại ghi đầy đủ như chẳng, bằng.

– Phần đầu của từ chưa hoàn chỉnh như ngày nay. Chẳng hạn:

c thường dùng thay vì q. Ví dụ: cuyèn nay ghi là quyền; cuên nay ghi là quân. Tuy nhiên, đôi chỗ vẫn ghi là quan, quỉ,…
b thay cho v. Ví dụ: bậy nay ghi là vậy; bua nay ghi là vua; bui bẻ nay ghi là vui vẻ.
bl thay vì tr. Ví dụ: blá nay ghi là trá; blời nay ghi là trời; blọn nay ghi là trọn.
gi thay vì tr. Ví dụ: giời nay ghi là trời.
k thay cho c. Ví dụ: kực nay ghi là cực.
l thay vì tr. Ví dụ: lời nay ghi là trời.
ml thay vì l. Ví dụ: mlẽ nay ghi là lẽ; mlơn nay ghi là lớn.
ngh thay vì ng. Ví dụ: nghành nay ghi là ngành. Tuy nhiên có chỗ vẫn ghi đúng là ngành.
tl thay vì tr. Ví dụ: tlaõ nay ghi là trong; tlước nay ghi là trước.


– Phần vần của từ cũng chưa hoàn thiện. Chẳng hạn:

  • ăch thường dùng thay vì ach (ví dụ: sắch nay ghi là sách).
  • ai thường dùng thay vì ây (ví dụ: nãi nay ghi là nẫy).
  • am thường dùng thay vì âm (ví dụ: thạm nay ghi là thậm).
  • ang thường dùng thay vì ăng (ví dụ: bàng nay ghi là bằng; chang nay ghi là chẳng; ràng nay ghi là rằng).
  • thường dùng thay vì ong (ví dụ: làõ nay ghi là lòng; phàõ nay ghi là phòng; faõ nay ghi là song; tlaõ nay ghi là trong).
  • aọc thường dùng thay vì ọc (ví dụ: haọc nay ghi là học).
  • at thường dùng thay vì ât (ví dụ: that nay ghi là thật).
  • at thường dùng thay vì ăt (ví dụ: đat nay ghi là đặt).
  • ân thường dùng thay vì ăn (ví dụ: cân nay ghi là căn).
  • ĕam thường dùng thay vì am (ví dụ: dĕám nay ghi là dám).
  • eu thường dùng thay vì eo (ví dụ: khéu nay ghi là khéo).
  • ên thường dùng thay vì ân (ví dụ: chên nay ghi là chân).
  • êt thường dùng thay vì ât (ví dụ: đết nay ghi là đất).
  • êu thường dùng thay vì iều (ví dụ: đều nay ghi là điều).
  • êy thường dùng thay vì ây (ví dụ: ếy nay ghi là ấy;
    • nay ghi là vậy; lếy nay ghi là lấy).
  • iẹc thường dùng thay vì iệc (ví dụ: viẹc nay ghi là việc).
  • ièm thường dùng thay vì iếm (ví dụ: kièm nay ghi là kiếm).
  • ién thường dùng thay vì iến (ví dụ: kién nay ghi là kiến; khién nay ghi là khiến).
  • ien thường dùng thay vì iêng (ví dụ: thien nay ghi là thiêng).
  • in thường dùng thay vì ân (ví dụ: nhin nay ghi là nhân).
  • oi thường dùng thay vì ôi (ví dụ: dói nay ghi là dối;
    • nay ghi là cội – tuy nhiên có chỗ vẫn ghi đúng là cội).
  • op thường dùng thay vì âp (ví dụ: lọp nay ghi là lập).
  • thường dùng thay vì ông (ví dụ: gióũ nay ghi là giống;
    • nay ghi là sống; roũ nay ghi là rộng).
  • õá thường dùng thay vì óa (ví dụ: hõá nay ghi là hóa).
  • õáng thường dùng thay vì uống (ví dụ: hõáng nay ghi là huống).
  • ôi thường dùng thay vì oi (ví dụ: mội nay ghi là mọi. Tuy vậy vẫn có chỗ ghi đúng là mọi).
  • ôy thường dùng thay vì ôi (ví dụ: cộy nay ghi là cội. Tuy vậy vẫn có chỗ ghi đúng là cội).
  • uân thường dùng thay vì uôn (ví dụ: muân nay ghi là muôn).
  • âng thường dùng thay vì ường (ví dụ: tùâng nay ghi là tường).
  • uâng thường dùng thay vì uông (ví dụ: huấng nay ghi là huống).
  • uc thường dùng thay vì oc (ví dụ: ngục hoàng nay ghi là ngọc hoàng).
  • uên thường dùng thay vì uân (ví dụ: cuên nay ghi là quân).
  • uên thường dùng thay vì uyên (ví dụ: nguền nay ghi là nguyên).
  • ũ thường dùng thay vì ũng (ví dụ: nay ghi là cũng).


1.2. Ngôn từ Công giáo: kế thừa những từ Công giáo của Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông và thêm một số từ mới mà đến nay vẫn còn dùng: chịu thai, Đấng bề trên, đạo Chúa, đạo thánh Đức Chúa Trời, đời sau, đạo vạy, đấng thiên thần, đời đời kiếp kiếp, Đức Chúa Trời, lạy ơn, quê dữ, quê lành…


1.3. Phiên âm tên riêng: kế thừa hai cách phiên âm trong TCTGKM để phiên âm tên riêng tiếng nước ngoài mà cho đến ngày nay vẫn còn sử dụng:

– Cách thứ nhất: phiên âm sang tiếng Hoa (bính âm). Sau đó dùng cách đọc Hán Việt để tạo ra từ. Td: Budha (Phật đà 佛陀) được phiên bính âm là fú duò, gọi tắt là Phật (陀) phiên bính âm là fú, đọc là “bụt”.

– Cách thứ hai: phiên âm tiếng nước ngoài theo cách đọc latinh của người Việt, sau đó dùng chữ quốc ngữ để ghi lại. Vd: angeli (thiên thần), gratia (ân sủng), gloria (vinh quang), Chúa Deus (Đức Chúa Trời), Larazô, Lucifer, Michael… Cách làm này hiện nay được nhiều nhóm dịch thuật sử dụng, đưa về tiếng latinh, dùng âm đọc Việt và phiên chuyển sang quốc ngữ.



2. Về tín lý

– Với tín ngưỡng dân gian: cha Đắc Lộ đã dùng những niềm tin và mong ước của người Việt để giúp họ tìm hiểu đạo thánh. Ví dụ:

+ Với tín ngưỡng phồn thực, người ta mong sống lâu, sống trong phú quý. Trong ngày thứ nhất – buổi học giáo lý đầu tiên – Cha Đắc Lộ đã giảng giải: “Vì vậy ta phải hay ở thế này chẳng có ai sống lâu; vì chưng kẻ đến bẩy tám mươi tuổi chẳng có nhiều. Vì vậy ta nên tìm đàng nào cho ta được sống lâu, là kiếm hằng sống vậy: thật là việc người quân tử. Khác phép thế này, dù mà làm cho người được phú quý, song le chẳng làm được cho ta ngày sau khỏi làm tiểu nhân, khốn nạn. Vì vậy ta chẳng phải học đạo cho ta được phú quý ở thế này, vì chưng ích đạo thánh Đức Chúa Trời về đời sau.”…

+ Với tín ngưỡng thờ thần, người Việt tin con người có xác, có hồn. Trong ngày thứ nhất – buổi học giáo lý đầu tiên – Cha Đắc Lộ đã giảng giải: “loài người ta có hai sự: một là xác, một là linh hồn. Xác bởi cha mẹ mà ra, có xương, có máu, có thịt hay nát hay mòn. Song le linh hồn là tính thiêng chẳng hay mòn, chẳng hay nát, chẳng hay chết, chẳng phải bởi cha mẹ mà ra, thật bởi bề trên mà có. Linh hồn như chủ nhà, xác như tôi tá hay là đầy tớ, vô thì phải phục linh hồn như chủ…”

+ Với tín ngưỡng thờ thiên, người Việt quan niệm là “cha Trời mẹ Đất”. Vậy, việc thờ Trời của người Việt khác với tục thờ Thiên của người Hoa. Thờ Trời của người Việt đó là đạo hiếu. Chính vì hiểu điều này, cha Đắc Lộ đã đề nghị thêm chữ “Chúa” trước chữ “Trời”: “Vì vậy chẳng nên thờ trời, chẳng khá lạy trời, lạy Đức Chúa Trời, thờ Đức Chúa Trời thì mới phải. Nhân vì sự ấy khi thế gian nói rằng: "lạy trời!" thì thiếu một chữ chúa, vì vậy thì phải thêm đơm chữ ấy, mà từ nay về sau nói làm vậy: "Tôi lạy Đức Chúa Trời, là Chúa cả trên hết mọi sự"…

– Với Nho giáo: cha Đắc Lộ chấp thuận trật tự mà Nho giáo đang chi phối đời sống người Việt, để người ta gọi mình bằng Thầy theo trật tự Quân, Sư, Phụ, tự coi mình như một người dân trong nước Đại Việt, luôn tuân theo những nghi thức lễ nghĩa trong cách xử thế. Cha Đắc Lộ đã giới thiệu thần học Tam Phụ để người Việt hiểu chữ Hiếu-Trung theo cách nhìn của Kitô giáo. “Bây giờ ta phải hay có ba đấng bề trên, gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào, cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta; đấng giữa là vua chúa trị nước; đấng trên là Đức Chúa trời đất, làm Chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống, được ở.” (Ba đấng bề trên, Ngày thứ nhất). Qua đó giúp người Việt nhận thức đúng đắn trong mối tương quan: con người và vũ trụ (con người đối với Chúa Trời), con người và đất nước (thần dân đối với vua chúa), con người và gia đình (con cháu và cha mẹ cùng tổ tiên).

– Với Phật giáo: cha Đắc Lộ đã có quan niệm sai lệch về gốc tích của Phật giáo: “Sự đàng sau này bởi nước India mà ra, thì ta nói trước. Ta suy bởi đâu mà ra, thì một chốc ta biết là đạo gian. Ay vậy mà từ tạo thiên lập địa qua ba nghìn năm dồ, mà từ lộn lạo tiếng nói một nghìn dư năm, bên Thiên trúc quốc thì có vua, tên là Tinh Phạn, mà đẻ con, dạ thì sáng, song kiêu ngạo lắm. Đã lấy con vua nào gần đấy gả cho, mà sinh đẻ được một con gái đoạn, thì khiến đi ở trên rừng một mình, dẫu vợ cãi mà chẳng cho, vì mình đã quen làm việc dối, như pháp môn phù thủy, và muốn cho người ta hãi mà khen nó, và lòng láo thong dong nói khó cùng ma quỷ.” (Đạo Bụt: giáo ngoài và giáo trong, Ngày thứ bốn). Việc cha Đắc Lộ nhận định do “vua bên Thiên Trúc” mộ đạo Phật nên đã cho xây “chùa triền” mà thờ và “dân theo vua nên thờ đạo gian[1], thờ bụt cùng vua” và việc đồng hóa Phật giáo với tôn thờ ngẫu tượng là chính xác[2]. Ở Việt Nam, khi Phật giáo du nhập thì gặp trở ngại là tín ngưỡng thờ Mẫu, cụ thể là Mẫu Tứ Pháp (Mây - Mưa - Sấm - Chớp) – người Việt thờ tự nhiên như người Mẹ che chở cho mình. Phật giáo đã “mượn” tín ngưỡng bản địa là Mẫu Tứ Pháp và chuyển thành Phật Bà Tứ Pháp. Điều này thật là khiên cưỡng! Vì Phật là người (chữ Phật thuộc bộ nhân ), là bậc tu đã tới cõi giác ngộ hoàn toàn, lại giáo hóa cho người được hoàn toàn giác ngộ. Vậy việc đưa Mẫu Tứ Pháp thành Phật Bà Tứ Pháp chỉ là cách giúp Phật giáo được người Việt đón nhận một cách nhanh chóng mà thôi[3]. Từ đó, các đền, phủ thờ Mẫu ở miền Bắc trở thành chùa và có cách sắp xếp gian thờ: tiền Phật hậu Mẫu. Cũng như một số chùa có gian thờ mẫu hoặc thờ thần. Điều này trái ngược với quan niệm vô thần của Phật giáo: phủ nhận thượng đế hay ông trời và linh hồn trường cửu.

– Với Đạo giáo: Do Đạo giáo từ phương Bắc đã chia làm hai nhánh, tu tiên và phù thủy nên. Đạo tu tiên rất tốn kém, chỉ phù hợp với vua quan và tầng lớp phú hộ. Đạo phù thủy phù chuyên dùng phép bùa chú, phép chữa bệnh, phép bói toán nên hợp với giới bình dân. Vì vậy, khi du nhập vào phương Nam, Đạo giáo đã dung hợp ngay với tín ngưỡng thờ Mẫu[4] để trở thành phần chính của đạo lý thờ Mẫu. Đạo Mẫu ở phương Nam hình thành mang tính chất đạo phù thủy từ đạo giáo và tạo ra nghi lễ bình dân trong việc thờ phượng, đó là hầu đồng. Như thế, không phải vô cớ mà cha Đắc lộ cho rằng “Giáo này thì thờ ma quỷ mà làm những phép giả, cùng chẳng có thờ Lão Tử ấy sốt, nhưng ở tối tăm mù mịt vậy.” (Đạo Lão, Ngày thứ bốn).


3. Về sư phạm giáo lý

Phép giảng tám ngày được cha Đắc Lộ trình bày theo cách thế Linh Thao và sắp đặt lại cho phù hợp với quan niệm sống của người Việt. Thật vậy, mục đích của Linh Thao là giúp giáo dân sống trong bất cứ ơn gọi nào có thể đáp trả lại lời mời gọi thiêng liêng để tiến đến đời sống thân mật thâm sâu với Thiên Chúa hơn.




SÁCH THÁNH GIÁO YẾU LÝ BẰNG CHỮ NÔM



Tiếp theo sau sách giáo lý đầu tiên bằng chữ Nôm Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông 天主聖教啟蒙 (TCTGKM) – ra đời vào khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ XVII – là quyển Thánh giáo yếu lý 聖教要理 hay Thánh giáo yếu lý quốc ngữ 聖教要理國語, sách Giáo lý Công giáo bằng chữ Nôm do Đức Cha Pigneau de Béhaine – Bá Đa Lộc (1741-1799) viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa và bài tựa bằng chữ Hán, xuất bản lần đầu tại Trung Quốc vào năm 1774. Năm 1837, Thánh giáo yếu lý 聖教要理 được tái bản[5] và năm 1933 là lần tái bản cuối cùng và có bổ sung, sau này được chuyển sang quốc ngữ và có tên gọi nôm na là giáo lý Tân Định, vì do sách in ở nhà in Tân Định.

Phần Tựa bằng chữ Hán, nội dung chính bằng chữ Nôm. Nội dung bản văn chữ Nôm của Thánh giáo yếu lý quốc ngữ 聖教要理國語 dựa trên bốn mục chính của Giáo lý Hội Thánh Công Giáo là Tin – Chịu – Giữ – Xin. Trong đó:

– Mục Tin gồm ba phần: 1- Thiên Chúa nhất thể tam vị – Đệ nhất thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi. ‖ 2- Giáng sinh cứu thế – Đệ nhị thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Ngôi Hai Thiên Chúa từ khi giáng sinh đến lúc thăng thiên và phán xét. ‖ 3- Tử kỳ hữu định – Đệ Tam Thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về linh hồn, Thiên đàng, Địa ngục.

– Mục Chịu gồm năm phần: 4- Nhân sinh tội chủng – Đệ tứ thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về tội. ‖ 5- Thánh Bí Tích – Đệ ngũ thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về ân sủng và Bí tích: Phép Rửa Tội và Phép Xức Trán (nay là Bí tích Thêm Sức). ‖ 6- Thánh Thể – Đệ lục thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Bí tích Thánh Thể và lễ Misa. ‖ 7- Cáo giải – Đệ thất thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Phép Giải Tội. ‖ 8- Cáo minh bổ thục – Đệ bát thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về cách thức xưng tội. ‖ 9- Chung phó - Thần phẩm - Hôn phối – Đệ cửu thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Phép Xức Dầu Thánh, Phép Hôn phối.

– Mục Giữ gồm phần 10 và 11: 10- Thập giới – Đệ thập niên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về Mười Giới Răn. ‖ 11- Hội Thánh điều luật – Đệ thập nhất thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về sáu lề luật Hội Thánh.

– Mục Xin là phần 12, ngoài ra còn có các phần bổ sung từ phần 13 – 17: 12- Thiên Chúa kinh giải – Đệ thập nhị thiên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về kinh Lạy Cha. ‖ 13-Thánh Mẫu kinh giả – Đệ thập tam niên: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về kinh Kính Mừng. ‖ 14- Chính việc giáo hữu phải làm hằng ngày: những câu Hỏi-Thưa tìm hiểu về việc giáo hữu thường làm trong ngày. ‖ 15- Kinh dốc lòng giữ Đạo Chúa cho trọn: kinh đọc trong thời bị bắt đạo. ‖ 16- Kinh đọc trước khi rước lễ: Đức Tin kinh, Đức Cậy kinh, Đức Mến kinh, Khiêm nhượng kinh, Ước ao kinh. ‖ 17- Kinh đọc sau khi chịu lễ: Đức Tin kinh, Đức Cậy kinh, Đức Mến kinh, Khiêm nhượng kinh, Cám ơn kinh, Dâng kinh, Cầu xin kinh.




SÁCH TỨ NGUYÊN YẾU LÝ BẰNG CHỮ NÔM



Tứ Nguyên Yếu Lý 肆原要理 (TNYL)[6] là sách giáo lý bám sát theo chỉ thị của công đồng Trento (1545-1563) – sách giáo lý phải diễn dịch từ kinh Credo – do Đức Cha Clément Masson Nghiêm dịch từ nguyên tác La Doctrine Chritienne của Charle Lhomond (1727-1794) và Đức Cha phó Louis Maria Trị truyền in năm 1898, tại Hồng Kông. Sách có bốn phần:


PHẦN THỨ NHẤT: GIẢNG VỀ KINH TIN KÍNH (36 đoạn)

  • Đoạn thứ nhất: Giảng về sự học hành cho biết các lẽ trong đạo, là sự cần dường nào.
  • Đoạn thứ hai: Giảng về có Đức Chúa Trời.
  • Đoạn thứ ba: Giảng về Đức Chúa Trời là Đấng lọn lành và gồm no mọi sự thể nào.
  • Đoạn thứ bốn: Giảng về Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.
  • Đoạn thứ năm: Giảng về Đức Chúa Trời định liệu mọi sự và coi sóc mọi sự.
  • Đoạn thứ sáu: Giảng về sự đạo là sự cần dường nào.
  • Đoạn thứ bảy: Giảng về có một Đức Chúa Trời mà thôi.
  • Đoạn thứ tám: Giảng về phép mầu nhiệm một Đức Chúa Trời Ba Ngôi.
  • Đoạn thứ chín: Giảng về Đức Chúa Trời đã dựng nên trời đất muôn vật.
  • Đoạn thứ mười: Giảng về A-dong phạm tội và tội tổ tông truyền.
  • Đoạn thứ 11: Giảng về Đức Chúa Trời phán hứa Đấng Cứu Thế sau sẽ ra đời.
  • Đoạn thứ 12: Hãy còn nói về lời Đức Chúa Trời phán hứa Đấng Cứu Thế sau sẽ ra đời và kẻ ngoại đạo sau sẽ trở lại chịu đạo.
  • Đoạn thứ 13: Giảng riêng về các đấng tiên tri đã nói tiên tri sau này Đấng Cứu Thế sẽ ra đời thể nào.
  • Đoạn thứ 14: Giảng về Đức Chúa Giê-su là Con Một Đức Chúa Trời cùng là Chúa chúng tôi.
  • Đoạn thứ 15: Giảng về nhân phép Phi-ri-tô Sang- tô mà Rất Thánh Đức Bà chịu thai và sinh đẻ đồng trinh sạch sẽ.
  • Đoạn thứ 16: Còn giảng về phép mầu nhiệm Đức Chúa Giê-su ra đời.
  • Đoạn thứ 17: Giảng về khi Đức Chúa Giê-su còn sống ở thế gian này thì Người ở thể nào và Người làm nhiều phép lạ thể nào.
  • Đoạn thứ 18: Giảng về đạo Thánh Đức Chúa Giê-su lập ra.
  • Đoạn thứ 19: Giảng về Đức Chúa Giê-su gồm no các nhân đức.
  • Đoạn thứ 20: Giảng về Đức Chúa Giê-su chịu nạn chưng thì quan Phong-xi-ô Phi-la-tô đóng đinh gác Câu-rút.
  • Đoạn thứ 21: Giảng về Đức Chúa Giê-su chết đoạn thì chịu táng và xuống địa ngục.
  • Đoạn thứ 22: Giảng về ngày thứ ba, Đức Chúa Giê-su bởi trong kẻ chết mà sống lại.
  • Đoạn thứ 23: Còn giảng về sự Đức Chúa Giê-su sống lại.
  • Đoạn thứ 24: Giảng về sự Đức Chúa Giê-su lên trời mà Người ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
  • Đoạn thứ 25: Giảng về ngày sau Đức Chúa Giê-su sẽ đến mà phán xét kẻ sống và kẻ chết.
  • Đoạn thứ 26: Giảng về lời rằng: Tôi tin kính Phi-ri-tô Sang-tô.
  • Đoạn thứ 27: Giảng về lời rằng: Tôi tin có Thánh I-ghê-rê-gia Ca-tô-li-ca.
  • Đoạn thứ 28: Còn giảng về sự lập nên Thánh I-ghê-rê-gia và những kẻ tử vì đạo.
  • Đoạn thứ 29: Giảng về các dấu riêng chỉ Thánh I-ghê-rê-gia.
  • Đoạn thứ 30: Còn giảng về các dấu riêng chỉ Thánh I-ghê-rê-gia.
  • Đoạn thứ 31: Giảng về Thánh I-ghê-rê-gia có quyền phép mà cai trị và coi sóc bổn đạo thể nào.
  • Đoạn thứ 32: Giảng về các Thánh cùng thông công.
  • Đoạn thứ 33: Còn giảng về các Thánh cùng thông công.
  • Đoạn thứ 34: Giảng về lời rằng: Tôi tin có phép tha tội.
  • Đoạn thứ 35: Giảng về loài người lại sống.
  • Đoạn thứ 36: Giảng về lời rằng: Tôi tin hằng sống vậy.


PHẦN THỨ HAI: GIẢNG VỀ MƯỜI ĐIỀU RĂN ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ SÁU SỰ RĂN THÁNH I-GHÊ-RÊ-GIA (42 đoạn)

  • Đoạn thứ nhất: Giảng về các điều răn Đức Chúa Trời là làm sao.
  • Đoạn thứ hai: Giảng về nhân đức tin.
  • Đoạn thứ ba: Giảng về nhân đức trông cậy.
  • Đoạn thứ bốn: Giảng về nhân đức kính mến.
  • Đoạn thứ năm: Giảng về sự thờ phượng.
  • Đoạn thứ sáu: Giảng về sự thể.
  • Đoạn thứ bảy: Giảng về sự chửi rủa.
  • Đoạn thứ tám: Còn giảng về sự chửi rủa.
  • Đoạn thứ chín: Giảng về sự giữ ngày lễ lạy.
  • Đoạn thứ mười: Còn giảng về sự giữ ngày nhất lễ lạy và sự xem lễ ngày ấy.
  • Đoạn thứ 11: Giảng về phải lo liệu thể nào cho được xem lễ nên.
  • Đoạn thứ 12: Còn giảng về sự phải lo liệu thể nào cho được ăn mày xem lễ nên.
  • Đoạn thứ 13: Giảng về sự thương yêu người ta.
  • Đoạn thứ 14: Giảng về sự thảo kính cha mẹ.
  • Đoạn thứ 15: Giảng về cha mẹ phải coi sóc con cái thể nào.
  • Đoạn thứ 16: Giảng về điều răn thứ năm: Chớ giết người.
  • Đoạn thứ 17: Giảng về sự làm gương mù gương xấu.
  • Đoạn thứ 18: Giảng về điều răn thứ sáu: Chớ làm tà dâm.
  • Đoạn thứ 19: Giảng về sự lòng động lòng lo, tư tưởng về sự chẳng nên.
  • Đoạn thứ 20: Giảng về sự nói hoa tình tục tĩu.
  • Đoạn thứ 21: Giảng về sự con mắt xem những sự chẳng nên.
  • Đoạn thứ 22: Giảng về những sự phải làm cho được giữ mình sạch sẽ.
  • Đoạn thứ 23: Giảng về sự ăn trộm ăn cắp.
  • Đoạn thứ 24: Còn giảng về sự ăn trộm ăn cắp.
  • Đoạn thứ 25: Giảng về sự nói dối, cùng sự làm chứng dối.
  • Đoạn thứ 26: Giảng về sự nói hành.
  • Đoạn thứ 27: Giảng về sự đoán xét dong dài vô ích, và sự ngờ vực cho người ta.
  • Đoạn thứ 28: Giảng về sự ước ao sự chẳng nên.
  • Đoạn thứ 29: Giảng về sự tham lam của người ta.
  • Đoạn thứ 30: Giảng về sáu sự răn Thánh I-ghê-rê-gia.
  • Đoạn thứ 31: Giảng về sự xưng tội một năm một lần.
  • Đoạn thứ 32: Giảng về sự chịu Mình Thánh Đức Chúa Giê-su trong mùa Phục Sinh.
  • Đoạn thứ 33: Giảng về sự ăn chay.
  • Đoạn thứ 34: Giảng về sự kiêng thịt ngày thứ sáu cùng ngày thứ bảy.
  • Đoạn thứ 35: Giảng về sự tội.
  • Đoạn thứ 36: Giảng về bảy mối tội đầu.
  • Đoạn thứ 37: Giảng về sự hà tiện.
  • Đoạn thứ 38: Giảng về sự dâm dục.
  • Đoạn thứ 39: Giảng về sự ghen ghét.
  • Đoạn thứ 40: Giảng về sự mê ăn uống.
  • Đoạn thứ 41: Giảng về sự giận ghét.
  • Đoạn thứ 42: Giảng về sự làm biếng trễ nải.


PHẦN THỨ BA: GIẢNG VỀ CÁC PHÉP SA-CA-RA-MEN-TÔ

  • Đoạn thứ 1: Giảng về các ơn Ga-ra-sa.
  • Đoạn thứ 2: Giảng về các phép Sa-ca-ra-men-tô.
  • Đoạn thứ 3: Còn giảng về các phép Sa-ca-ra-men-tô.
  • Đoạn thứ 4: Giảng về phép Rửa Tội.
  • Đoạn thứ 5: Giảng về những lời khấn hứa khi chịu phép Rửa Tội.
  • Đoạn thứ 6: Giảng về phép Thêm Sức cho mạnh đạo.
  • Đoạn thứ 7: Giảng về phải dọn mình chịu phép Thêm Sức cho mạnh đạo thể nào.
  • Đoạn thứ 8: Giảng về kẻ đã được chịu phép Thêm Sức cho mạnh đạo, phải ăn ở thể nào.
  • Đoạn thứ 9: Giảng về phép Giải Tội.
  • Đoạn thứ 10: Giảng về phép Giải Tội sinh ra những ích nào.
  • Đoạn thứ 11: Giảng về sự ăn năn tội.
  • Đoạn thứ 12: Giảng về các lẽ giúp cho ta được ăn năn tội nên.
  • Đoạn thứ 13: Giảng về sự dốc lòng chừa.
  • Đoạn thứ 14: Giảng về sự xưng tội.
  • Đoạn thứ 15: Giảng về kẻ chẳng có lòng thật thà mà giấu tội khi xưng tội.
  • Đoạn thứ 16: Giảng về sự xưng tội chung.
  • Đoạn thứ 17: Giảng về sự đền tội.
  • Đoạn thứ 18: Còn giảng về sự đền tội.
  • Đoạn thứ 19: Giảng về phép In-du.
  • Đoạn thứ 20: Giảng về phép Mình Thánh Máu Thánh Đức Chúa Giê-su.
  • Đoạn thứ 21: Giảng về sự dọn mình cho được ăn mày chịu Mình cùng Máu Thánh Đức Chúa Giê-su nên.
  • Đoạn thứ 22: Còn giảng về sự dọn mình ăn mày chịu Mình cùng Máu Thánh Đức Chúa Giê-su.
  • Đoạn thứ 23: Giảng về phải làm đí gì khi đã chịu lễ đoạn.
  • Đoạn thứ 24: Giảng về những ích lợi bởi chịu lễ mà ra.
  • Đoạn thứ 25: Giảng về sự chịu lễ chẳng nên.
  • Đoạn thứ 26: Giảng về sự năng chịu lễ.
  • Đoạn thứ 27: Giảng về phép tế lễ Mi-sa.
  • Đoạn thứ 28: Giảng về phép Xức Dầu Thánh cho kẻ liệt.
  • Đoạn thứ 29: Giảng về phép truyền chức.
  • Đoạn thứ 30: Giảng về phép nhất phu nhất phụ.
  • Đoạn thứ 31: Giảng về sự dọn mình ăn mày chịu phép nhất phu nhất phụ.


PHẦN THỨ BỐN: GIẢNG VỀ SỰ ĐỌC KINH CẦU NGUYỆN

  • Đoạn thứ 1: Giảng về sự đọc kinh cầu nguyện là sự cần dường nào.
  • Đoạn thứ 2: Giảng về sự đọc kinh cầu nguyện hay làm ích cho ta là dường nào.
  • Đoạn thứ 3: Giảng về phép dọn mình thể nào cho được đọc kinh cầu nguyện nên.
  • Đoạn thứ 5: Giảng về câu thứ nhất kinh Lạy Cha rằng: chúng tôi xin danh Cha cả sáng.
  • Đoạn thứ 6: Giảng về câu thứ hai kinh Lạy Cha rằng: Nước Cha trị đến.
  • Đoạn thứ 7: Giảng về câu thứ ba kinh Lạy Cha rằng: Vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
  • Đoạn thứ 8: Giảng về câu thứ bốn kinh Lạy Cha rằng: Chúng tôi xin Cha rầy cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ.
  • Đoạn thứ 9: Giảng về câu thứ năm rằng : Mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi vậy.
  • Đoạn thứ 10: Giảng về câu thứ sáu rằng: Xin chớ để chúng tôi sa chước cám dỗ.
  • Đoạn thứ 11: Giảng về câu sau hết kinh Lạy Cha rằng: Mà lại chữa chúng tôi khỏi mọi sự dữ.
  • Đoạn thứ 12: Giảng về kinh Lạy Mừng và sự kính thờ Rất Thánh Đức Bà Ma-ri-a.

Quyển sách giáo lý này không viết theo dạng Hỏi-Thưa mà viết theo kiểu giải thích bốn mục chính TIN – GIỮ – CHỊU – XIN theo kiểu sách Giáo lý Công đồng Trento và ngày nay quyển Sách giáo lý Hội Thánh Công Giáo (Catechismus Catholicae Ecclesiae) cũng thực hiện theo cách này.



Nhận định sự đóng góp của TNYL


1. Về mặt ngôn ngữ


1.1. Chữ Nôm trong TNYL vào thế kỷ XIX có một thay đổi so với chữ Nôm trong sách TCTGKM ở thế kỷ XVII.


1.2. Ngôn từ Công giáo: những từ Công giáo được ghi lại trong sách TNYL có từ đã cổ, có từ vẫn được dùng cho đến ngày nay, như: ăn mày các phép (lãnh nhận các bí tích), bảy mối tội đầu (các thứ tội phát sinh ra các tội khác), bụt thần ma quỷ (bụt thần đây không hiểu là Đức Phật (Budha), mà là những tượng thần mê tín), các Thánh cùng thông công (các Thánh trên trời, các linh hồn nơi luyện hình, các giáo hữu còn phấn đấu ở trần thế làm thành một cộng đồng thông hiệp với nhau), chưng thì (vào thời), gồm no (đầy đủ), hằng sống vậy (sống vĩnh cửu), ngày lễ lạy (lễ Chủ Nhật), ngày nhất lễ (ngày buộc phải tham dự thánh lễ), ngự bên hữu (có quyền lực hạnh phúc như Chúa Cha), nhân phép (nhờ quyền năng), phép Giải tội (Bí tích Thống hối), phép Mình thánh Máu Thánh Đức Chúa Giê-su (Bí tích Thánh Thể), phép nhất phu nhất phụ (Bí tích hôn phối), phép Rửa tội (Bí tích Rửa tội), phép Thêm sức (Bí tích Thêm sức), phép truyền chức (Bí tích Truyền Chức Thánh), phép Xức Dầu Thánh cho kẻ liệt (Bí tích Xức Dầu thánh), sách Sấm Truyền Cũ (sách Cựu Ước), tử vì đạo (làm chứng cho đạo bằng cái chết)…


1.3. Phiên âm tên riêng như trong TNYL:

– Cách thứ nhất: phiên âm sang tiếng Hoa (bính âm). Sau đó dùng cách đọc Hán Việt để tạo ra từ. Vd: Nạp Tạp Lặc (Nazareth).

– Cách thứ hai: phiên âm tiếng nước ngoài theo âm tiếng Việt, sau đó dùng chữ Nôm để ghi lại. Chẳng hạn như: Kê-lê-men-tê (Clément); I-gliê-rê-gia (Igreja): Hội Thánh Công Giáo; Ca-tô-li-ca (Catholique): Công giáo…


2. Về tín lý

+ Phần thứ nhất có ba mươi sáu đoạn, giảng tường tận về Kinh Tin Kính. Sách không thể hiện ở dạng hỏi thưa nhưng chia ra những chủ đề nhỏ để trình bày. Cách thức này vẫn gặp ở sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo ngày nay (2010).

+ Phần thứ hai có bốn mươi hai đoạn, giảng về: ba nhân đức đối thần Tin, Cậy, Mến; các điều răn của Đức Chúa Trời; sáu sự răn của Thánh I-ghê-rê-gia (Hội Thánh); bảy mối tội đầu. Những điều trong phần thứ hai ngày nay vẫn được đề cập đến trong Giáo lý Hội Thánh Công giáo (2010).

+ Phần thứ ba có ba mươi mốt đoạn, giảng chi tiết về chất thể và mô thể của bảy phép sa-ca-ra-men-tô (Bí tích); giảng về cách thức ăn mày các phép (chuẩn bị lãnh nhận các bí tích).

+ Phần thứ tư có mười hai đoạn, giảng về sự đọc kinh cầu nguyện là cần thiết dường nào; giảng về kinh Lạy Cha.


3. Về sư phạm giáo lý

TNYL được trình bày theo phương pháp truyền thụ - diễn dịch và dùng Kinh Thánh để chứng minh, không dùng phương pháp đặt câu hỏi cũng không dùng phương pháp kể chuyện.




SÁCH THÁNH GIÁO YẾU LÝ BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ MỚI[7]



Thánh giáo yếu lý quốc ngữ 聖教要理國語, sách Giáo lý Công giáo bằng chữ Nôm do Đức Cha Pigneau de Béhaine – Bá Đa Lộc (1741-1799) viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa và được tái bản lần cuối vào năm 1933 tại Kẻ Sở.

Dựa trên TGYL bằng chữ Nôm, năm 1957, Đức Cha Simon Hòa Hiền đã cho xuất bản quyển “sách giáo lý sơ bộ” và năm 1967, Đức Cha Phaolô Bình cho phổ biến quyển Giáo lý Tân Định[8] (GLTĐ). Tất nhiên nội dung của sách GLTĐ giống như sách TGYL bằng chữ Nôm. So sánh:

THÁNH GIÁO YẾU LÝ

“GIÁO LÝ TÂN ĐỊNH”

H. Có mấy đường lên thiên đàng?

T. Có một đường rất chính, rất thật là đạo thánh Đức Chúa Trời.


H. Đức Chúa Trời là ai?

T. Là Đấng dựng nên trời đất, muôn vật.


H. Đức Chúa Trời là đí gì mà dựng nên trời đất muôn vật?

T. Lấy phép tắc vô cùng.


H. Lấy phép tắc vô cùng nghĩa là làm sao?

T. Nghĩa là bởi không mà Người phán một lời tức thì liền có trời đất muôn vật.


H. Lấy phép tắc vô cùng nghĩa là làm sao?

T. Nghĩa là bởi không mà Người phán một lời tức thì liền có trời đất muôn vật.


H. Vì ý nào mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật?

T. Có ý cho sáng danh Người cùng cho ta đặng dùng.


H. Thuở chưa có trời đất, Đức Chúa Trời ở đâu?

T. Trước sau cũng vậy vì Người là tính thiêng liêng chẳng lọ có nơi nào thì mới ở đặng.


H. Ai sinh ra ta?

T. Đức Chúa Trời sinh ra ta.


H. Đức Chúa Trời sinh ra ta làm chi?

T. Đức Chúa Trời sinh ta cho đặng thờ phượng kính mến Người, hầu ngày sau hưởng phước đời đời.


H. Đức Chúa Trời ra làm sao?

T. Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành, thiêng liêng, sáng láng vô cùng.


H. Đức Chúa Trời ở đâu?

T. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.

H. Có mấy đường lên Thiên đàng?

T. Có một đàng rất chính rất thật, là đạo thánh Đức Chúa Trời.


H. Đức Chúa Trời là ai?

T. Là Đấng dựng nên trời đất muôn vật, cùng hằng gìn giữ cai trị mọi sự.


H. Phải suy lẽ nào cho đặng biết có Đức Chúa Trời?

T. Phải suy phép tắc thứ tự trên trời dưới đất liền biết có Đấng dựng nên làm đầu cai trị, thì mới có phép tắc thứ tự vững bền làm vậy.


H. Sao nói rằng: bởi phép tắc thứ tự thì mới biết có Đức Chúa Trời?

T. Bởi khi ta xem trên trời dưới đất và thấy việc rất xinh tốt, rất công phu và có thứ tự mọi đàng, như mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao, can truyền luân chuyển theo độ số rất thật; bốn mùa đắp đổi nhau luôn; đất sinh ra hoa quả thảo mộc, cùng các đđiều khác nhau như vậy, thì ta rõ biết có Đấng phép tắc vô cùng, là căn nguyên mọi sự rất tốt rất trọng dường ấy.


H. Có ví dụ nào cho ta dễ hiểu sự ấy chăng?

T. Giả như người ta thấy nhà hay là đền đài vua chúa rất xinh rất tốt, tức thì nói rằng: có thợ rất khôn khéo đã làm nhà hay là đền đài ấy; mà chẳng có ai nói rằng: bởi hư không, hay là bởi tình cờ mà có nhà, có đền đài tốt thể ấy. Cũng một lẽ ấy, khi ta xem phép tắc thứ tự trên trời dưới đất, thì ta nói rằng: đã có một đấng cầm quờn ra máy nhiệm, thì trời đất mới đặng xinh tốt, và giữ phép tắc thứ tự chẳng sai bao giờ. Mà Đấng cầm đầu ấy, ta gọi là Đức Chúa Trời.


H. Vì ý nào mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật?

T. Có ý cho sáng danh Người cùng cho ta đặng dùng.


H. Ai sinh ra ta?

T. Đức Chúa Trời sinh ra ta.


H. Đức Chúa Trời sinh ra ta làm chi?

T. Đức Chúa Trời sinh ta cho đặng thờ phượng kính mến Người, hầu ngày sau hưởng phước đời đời.


H. Đức Chúa Trời ra làm sao?

T. Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành, thiêng liêng, sáng láng vô cùng.


H. Đức Chúa Trời ở đâu?

T. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.

Qua 11 câu của TGYL và 10 câu của GLTĐ đã thấy trùng nhau mười câu vào GLTĐ có gốc từ TGYL nhưng có văn phong dễ hiểu hơn, có cách truyền thụ cụ thể hơn qua các ví dụ.


LỜI KẾT


Việc thừa kế truyền thống của tiền nhân là nét son trong việc giảng dạy giáo lý. Cho đến nay, mặc dù đã có Sách giáo lý Hội Thánh Công Giáo (Catechismus Catholicae Ecclesiae) với bản dịch mới nhất 2010 của Ủy ban Giáo lý Đức Tin, có sách Bản Hỏi Thưa Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo của Ủy ban Giáo lý Đức Tin (2013) với tư tưởng Thần học mới và với văn phong hiện đại nhưng những quyển sách giáo lý xưa vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến việc sống đạo của người Công giáo Việt Nam.

(kết thúc)



Michel Nguyễn Hạnh

[1] Đạo gian: từ này do nhà Lê Trung Hưng gọi chung cho các tôn giáo khác Nho giáo.

[2] Lời bàn luận trong khung cảnh thế kỷ XVII.

[3] Việc nhận định này là cái nhìn chung của nhiều nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa.

[4] Do trước đó, tín ngưỡng thờ Mẫu phát xuất từ tín ngưỡng thờ tự nhiên, không có hệ thống tư tưởng làm nền tảng.

[5] Quyển Thánh giáo yếu lý 聖教要理 hay Thánh giáo yếu lý quốc ngữ 聖教要理國語giới thiệu ở đây được tái bản năm 1837.

[6] Tứ Nguyên Yếu Lý: Sách giáo lý trình bày đại cương về bốn phần: Giữ, Xin, Tin, Chịu.

[7] Quốc ngữ cũ là chữ Nôm, được Vua Quang Trung chuẩn nhận; quốc ngữ mới là chữ Việt theo ABC hiện nay. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ mới thay thế chữ Nho và chữ Nôm (quốc ngữ cũ) trong các công văn. Thật đáng buồn, chữ Quốc ngữ mới chưa được nhà nước công nhận bằng một văn bản nào ngay trong hiến pháp cũng thế.

[8] Đây là Thánh giáo yếu lý quốc ngữ bằng chữ Việt (chữ theo hệ thống ABC của latinh). Gọi là “giáo lý Tân Định” vì được in ở nhà in Tân Định.